<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-2683049842822975878</id><updated>2012-01-13T17:33:04.157-08:00</updated><title type='text'>Principal's Blog</title><subtitle type='html'>Viện Thần Học Liên Hiệp (ATC)</subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://atcprincipal.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://atcprincipal.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Trần Trọng Nha, PhD</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00164744445826832009</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='29' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/-WgylZ-R6OPk/TxDbCMVpd5I/AAAAAAAAAHI/gp7b0xrc8OE/s220/MSNha.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>7</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2683049842822975878.post-7003488617174511265</id><published>2011-12-26T20:40:00.000-08:00</published><updated>2011-12-28T07:38:00.847-08:00</updated><title type='text'>Nhập thể và Lãnh đạo Thuộc linh</title><content type='html'>&lt;span style="font-style:italic;"&gt;Kinh thánh: Phi-líp (Philippians) 2:5-8&lt;br /&gt;Hãy có đồng một tâm tình như Ðấng Christ đã có, Ngài vốn có hình Ðức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Ðức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tổng thống Bắc Hàn Kim Jong Il đột ngột từ trần vì bị nhồi máu cơ tim (heart attack) đang khi đi công tác bằng tàu lửa trong tuần rồi. Hưởng thọ 69 tuổi. Nhà lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Il lên kế vị cha mình là Tổng thống Kim Il Sung vào năm 1994. Suốt 17 năm cầm quyền, Kim Jong Il khét tiếng là cực kỳ độc tài thậm chí còn hơn cả cha mình, cai trị dân chúng bằng bàn tay sắt (with an iron fist), sống xa hoa trong nhung lụa, tham mê sắc dục, ăn uống thỏa thê với bao món ngon vật lạ ít nhất mỗi tuần như: tôm hùm (lobsters), uống rượu Pháp (French wine), súp vây cá mập (shark’s fin soup), cá sống (sushi) v.v… Cuộc sống xa hoa và sa đọa của Kim Jong Il và gia đình hoàn toàn trái ngược hẳn với sự thực trạng của một xã hội Bắc Hàn đa số dân chúng sống cảnh nghèo đói, rách nát và khốn khổ. Mặc dầu có đầy thế lực trong tay, lãnh đạo một quân đội đông đứng hàng thứ 5 trên thế giới, Kim Jong Il rất ít khi nào đi xa, ngại đi máy bay vì sợ chết! Khi cần, Ông đi bằng tàu hỏa (train) sang các nước láng giềng như Nga và Trung Quốc. Trong năm 2008, Kim Jong Il đã bị nhồi máu cơ tim một lần. Kể từ dạo ấy, sức khỏe ông thuyên giảm và kết thúc bằng sự ra đi đột ngột trong thứ Bảy 17/12/2011 vừa qua. Biết trước những ngày của mình không còn bao lâu, Kim Jong Il đã tìm cách tiến vị con trai thứ nhì của mình với người vợ thứ ba Ko Yong-hui, rất trẻ chưa đầy 30 tuổi là Kim Jong-un, người từng lấy tên khác theo học tại Thụy Sĩ (Switzerland), lên làm nhà lãnh đạo đất nước thay thế mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hình ảnh của một vị tổng thống thế tục như Kim Jong Il hoàn toàn trái ngược với hình ảnh của nhà lãnh đạo thuộc linh mẫu mực là Chúa Jesus. Vấn đề của Hội thánh Phi-líp gặp phải, đặc biệt là sự xung đột giữa những người lãnh đạo trong hội thánh (Phi-líp 2:2; so sánh với 4:2), sứ đồ Phao-lô cho biết xuất phát từ ba đặc điểm của bản tánh con người: (a) lòng tranh cạnh và tìm kiếm hư vinh; (b) tính kiêu căng và coi thường người khác; và (c) tìm kiếm tư lợi và chà đạp lên quyền lợi của người khác (2:3-4). Đó là bản chất tự nhiên của con người sa ngã thừa hưởng từ tổ phụ A-đam và Ê-va. Tất cả mọi người đều bị chi phối bởi những điều tầm thường này. Vì vấn đề thuộc phạm trù của con người và đụng đến bản chất sa ngã của con người, cho nên phương cách giải quyết cũng phải mang tính con người mới hợp lý và hữu hiệu đối với sự hiểu biết của con người. Chính vì thế, sứ đồ Phao-lô dùng giáo lý nhập thể của Chúa Jesus để giải quyết vấn đề này. Chúng ta hãy so sánh giữa bản chất con người và Thần Nhân Jesus:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con người sa ngã:                 &lt;br /&gt;= Tranh cạnh/không vâng phục + Tìm kiếm vinh hiển giả tạo         &lt;br /&gt;= Kiêu căng và coi thường người khác.                                         &lt;br /&gt;= Tìm kiếm tư lợi (tức chăm về lợi riêng mình)         &lt;br /&gt;                                       &lt;br /&gt;Thần Nhân Jesus:&lt;br /&gt;= Vâng phục Đức Chúa Trời + Gác bỏ qua sự vinh hiển vốn có (c. 6)&lt;br /&gt;= Nhìn nhận và tôn trọng giá trị con người khi trở thành người (c. 7)&lt;br /&gt;= Chịu chết để mang lại lợi ích cho con ngườivà thỏa mãn sự đòi hỏi công chính của Đức Chúa  Trời (c. 8)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúa Jesus chính là Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa, là Đức Chúa Trời mà Ngài đã từ bỏ vinh hiển vốn có mà không ai trong con người có thể sánh bằng để xuống thế làm người. Chúa Jesus không xuống thế để trở thành một vị vua hay tổng thống đầy quyền lực trong tay hay để thụ hưởng cuộc sống giàu sang phú quý trong trần gian này. Nhưng Ngài đến làm một con người tầm thường, hèn hạ và nghèo khổ nhất, bị con người chà đạp và phỉ nhổ trên mặt, và cuối cùng chọn cái chết sỉ nhục và đau đớn nhất. Chúa Jesus trở thành người không phải để trở thành nhà lãnh đạo trần gian nhưng Ngài đến để cho con người biết những đặc tính của một nhà lãnh đạo thuộc linh. Vấn đề của con người chúng ta là trong sự sa ngã, con người đã tự đánh mất đi sự vinh hiển và uy quyền do Đức Chúa Trời ban cho khi Ngài dựng con người nên trong hình ảnh của Ngài (Sáng thế ký 1:26). Vì thế, con người khao khát tự tạo cho mình sự vinh hiển và mong muốn hành quyền như thể là một con người có quyền thật sự trong tay, gọi là độc tài. Khi một người theo đuổi danh vọng, quyền lực, và sự thỏa mãn xác thịt, chứng tỏ rằng người ấy đang thiếu thốn và thèm muốn những điều mình đã đánh mất trong sự sa ngã. Là người hầu việc Chúa, nhà lãnh đạo thuộc linh phải theo đuổi mẫu mực của Chúa Jesus. Khi một nhà lãnh đạo thuộc linh không có những đức tính tìm thấy trong Chúa Cứu Thế Jesus, nói lên rằng người đó đang sống trong bịnh tật tâm linh và thiếu hụt sự hiện diện của Ngài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúa Jesus luôn luôn là nhà lãnh đạo thuộc linh kiểu mẫu tuyệt vời nhất của nhân loại nói chung và của Hội Thánh Đức Chúa Trời nói riêng. Để có thể chống trả lại sức sống mãnh liệt của tinh thần thế tục và xác thịt vốn sẵn có trong con người chúng ta, không làm gì khác hơn là để cho tâm tình của Chúa Cứu Thế Jesus chiếm hữu và cai trị mình. Sứ đồ Phao-lô kêu gọi: “Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có.” Đây là một trong những câu rất khó dịch trong toàn bộ Tân Ước vì nó rất ngắn nhưng cô đọng trong ý tưởng. Nó bắt đầu một trong những bài ca về Đấng Christ Học (Christological hymns) của Hội Thánh đầu tiên, chứa đựng thần học nhập thể của Chúa Jesus. Từ được dịch là “tâm tình” (danh từ) ở đây thực ra là động từ “suy nghĩ” hay “có ý tưởng.” Lời khuyên của sứ đồ có thể giải thích như sau: chúng ta hãy nghĩ đến tâm tình hay những đặc điểm được miêu tả chi tiết trong câu 6-8, mà những điều đó chỉ có ở Chúa Cứu Thế Jesus.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không một ai có thể mang lấy tâm tình hay bắt chước tâm tình của Chúa Jesus nếu không có chính Ngài sống trong mình. Chỉ khi nào chính Ngài giáng trần vào trong cuộc đời chúng ta, sống thay cho chúng ta, khi đó chúng ta mới có được những đặc tính hay tâm tình của Ngài và có thể trở thành nhà lãnh đạo thuộc linh đúng nghĩa. Vì Chúa Cứu Thế Jesus đang sống trong mình, chúng ta hãy để cho tâm tình của Ngài biểu lộ trong và qua chúng ta: tôn cao Chúa, tôn trọng người khác, và nghĩ đến hạnh phúc của người khác thay vì chính mình. Chính sự nhập thể của Chúa Jesus đã làm cho con người với bản chất xấu xa và ích kỷ này có thể trở thành những nhà lãnh đạo thuộc linh chân chính và đầy đủ ý nghĩa nhất. Đó chính là mẫu người lãnh đạo thuộc linh mà Hội Thánh Đức Chúa Trời cần trải qua các thời đại. Có lẽ một trong những lời cầu nguyện của chúng ta trong mùa Giáng Sanh này là: “Lạy Đức Chúa Trời Ba Ngôi, xin Ngài đoái thương dân tộc và Hội Thánh Việt Nam chúng con trên toàn thế giới, tiếp tục dấy lên cho chúng con những nhà lãnh đạo thuộc linh để dẫn dắt dân sự của Chúa đến với chính Chúa Cứu Thế Jesus là Đấng Chăn Chiên Lớn của chúng con. Amen!"&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2683049842822975878-7003488617174511265?l=atcprincipal.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/7003488617174511265'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/7003488617174511265'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://atcprincipal.blogspot.com/2011/12/kinh-thanh-phi-lip-philippians-25-8-hay.html' title='Nhập thể và Lãnh đạo Thuộc linh'/><author><name>Trần Trọng Nha, PhD</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00164744445826832009</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='29' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/-WgylZ-R6OPk/TxDbCMVpd5I/AAAAAAAAAHI/gp7b0xrc8OE/s220/MSNha.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2683049842822975878.post-1307611188764828624</id><published>2011-11-23T13:21:00.000-08:00</published><updated>2011-11-25T06:34:35.785-08:00</updated><title type='text'>Sự xức dầu với người lãnh đạo</title><content type='html'>&lt;span style="font-style:italic;"&gt;Kinh thánh: Lu-ca (Luke) 4:18-22&lt;br /&gt;Thần của Chúa ngự trên ta: Vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền Tin Lành cho kẻ nghèo; Ngài đã sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, Kẻ mù được sáng, Kẻ bị hà hiếp được tự do, và để đồn ra năm lành của Chúa. Ðoạn, Ngài xếp sách, trả lại cho kẻ giúp việc, rồi ngồi xuống; mọi người trong nhà hội đều chăm chỉ ngó Ngài. Ngài bèn phán rằng: Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà các ngươi mới vừa nghe đó. Ai nấy đều làm chứng về Ngài, lấy làm lạ về các lời đầy ơn lành từ miệng Ngài ra, và nói rằng: Có phải con Giô-sép chăng?&lt;/span&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúa Jesus là một nhà lãnh đạo thuộc linh tuyệt vời nhất Đức Chúa Trời đã ban cho nhân loại. Sự nhập thể của Chúa Jesus chẳng những cung ứng cho con người sự cứu rỗi nhưng còn khiến cho chức việc của những nhà lãnh đạo thuộc linh trở nên khả thi. Giáo lý nhập thể của Chúa Jesus nằm ngay trong trọng tâm của sự hiểu biết con người về Đức Chúa Trời và cung ứng một lối giải thoát con người ra khỏi sự thất bại do sự sa ngã gây ra, biến những gì bất khả thi trở nên khả thi. Trước khi Chúa Jesus trở thành Cứu Chúa của nhân loại qua sự chết và sống lại, Ngài trở thành nhà lãnh đạo thuộc linh chân chính và kiểu mẫu. Việc Chúa Jesus trở thành nhà lãnh đạo thuộc linh gắn liền với công tác cứu chuộc nhân loại. Khi Chúa Jesus trở thành người, Ngài bước vào phạm trù và kinh nghiệm của đời sống con người. Trong kinh nghiệm sống đó, Chúa Jesus có thể chứng minh rằng tất cả những lãnh vực nào của đời sống con người đều có thể khả thi và vừa lòng Đức Chúa Trời nếu chúng ta để cho chính Ngài bước vào làm chủ đời sống của chúng ta. Trong đó, nó bao gồm cả việc trở thành một nhà lãnh đạo thuộc linh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc Chúa Jesus trở thành nhà lãnh đạo thuộc linh tùy thuộc vào việc Ngài nhận lấy sự xức dầu của Chúa Thánh Linh. Thế thì, việc Chúa Jesus chịu xức dầu có nghĩa là gì? Điều này chi phối đời sống, chức vụ, và sứ vụ cứu chuộc nhân loại của Ngài như thế nào? Điều không thể chối cải được đó là việc Chúa Jesus chịu xức dầu trở thành bản chất tự tại của Ngài và biến Ngài trở thành Đấng Christ. Động từ “xức dầu” được sử dụng ở thể thụ động thần thượng (divine passive) bởi đó hình thành nên chính danh hiệu của Ngài là Đấng Christ, nghĩa là “Đấng Chịu Xức Dầu.” Chẳng những việc Chúa Jesus chịu xức dầu để chịu sai đi, nhưng khi Ngài chấp nhận trở thành người và mang lấy bản chất của con người, Chúa Jesus cần phải được xức dầu để “canh giữ” chính Ngài trong ý muốn của Cha Ngài, và giúp chính Ngài vâng phục hầu trở thành một của lễ trọn vẹn đẹp lòng Đức Chúa Trời có thể đền tội cho nhân loại (Hê-bơ-rơ 5:8-9). Hơn nữa, với sự xức dầu đó làm cho chức vụ của Chúa Jesus trở nên khả thi trong tư cách của một con người mà qua đó chúng ta là những nhà lãnh đạo mang tính chất “con người” (thế tục) có thể trở thành những nhà lãnh đạo thuộc linh đẹp lòng Đức Chúa Trời. Hay nói cách khác, chúng ta là những nhà lãnh đạo “con người” chẳng bao giờ có thể trở thành những nhà lãnh đạo “thuộc linh” được nếu không có sự xức dầu của Chúa Thánh Linh. Đó là sự khác biệt rõ rệt và vẽ ra lằn ranh dứt khoát phân chia giữa những nhà lãnh đạo thế tục với những nhà lãnh đạo thuộc linh. Mất đi sự xức dầu của Chúa, những nhà lãnh đạo thuộc linh sẽ bị rơi và té ngã trở lại trong hàng ngũ của những nhà lãnh đạo thế tục dẫu cho trên hình thức và danh nghĩa họ vẫn còn là những nhà lãnh đạo thuộc linh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì thế, ngay từ xa xưa trong Cựu Ước, việc xức dầu là điều đòi hỏi không thể thiếu được và không thể khoan nhượng (non-negotiable) của người lãnh đạo thuộc linh. Sự xức dầu biệt riêng và thánh hóa người lãnh đạo cho Đức Chúa Trời để họ “đủ điều kiện” làm công việc thánh của Ngài. Sự xức dầu biến người lãnh đạo trở thành một con người khác và ban cho người đó ân tứ để thích hợp với thánh chức mà Chúa kêu gọi và chọn lựa, giống như trong trường hợp của Sau-lơ khi được chọn làm vua dân Y-sơ-ra-ên (1 Sa-mu-ên 10:9-10). Đồng thời, sự xức dầu ban cho người lãnh đạo có uy quyền, khiến cho sứ điệp của người đó có thẩm quyền và dán chặt trong tâm trí và tấm lòng người nghe, đưa đến sự thay đổi đời sống và khiến họ đi đến chỗ quyết định buông bỏ thế gian để sống cho Đức Chúa Trời. Sự xức dầu khiến cho tâm trí người nghe bị thu hút cách mãnh liệt đến nỗi không thể cưỡng lại được và lôi kéo họ ra khỏi thế giới của con người đưa họ vào trong thế giới của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, chính sự xức dầu đã làm cho sứ điệp và chức vụ của người lãnh đạo tạo nên một lằn ranh rõ rệt giữa những gì thuộc về con người và những gì thuộc về Đức Chúa Trời trong lòng và tâm trí con người. Điều đó được gói trọn trong ngôn từ của Thánh Kinh là “người được xức dầu.”&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2683049842822975878-1307611188764828624?l=atcprincipal.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/1307611188764828624'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/1307611188764828624'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://atcprincipal.blogspot.com/2011/11/su-xuc-dau-voi-nguoi-lanh-ao.html' title='Sự xức dầu với người lãnh đạo'/><author><name>Trần Trọng Nha, PhD</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00164744445826832009</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='29' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/-WgylZ-R6OPk/TxDbCMVpd5I/AAAAAAAAAHI/gp7b0xrc8OE/s220/MSNha.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2683049842822975878.post-7271709944829712062</id><published>2011-07-17T04:04:00.000-07:00</published><updated>2011-11-25T06:30:54.960-08:00</updated><title type='text'>Dấu hiệu của ân sủng và sự xức dầu</title><content type='html'>&lt;span style="font-style:italic;"&gt;Ða-vít đáp cùng A-bi-ga-in rằng: Ðáng ngợi khen Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì đã sai ngươi đến đón ta ngày nay! Ðáng khen sự khôn ngoan ngươi và chúc phước cho ngươi, vì ngày nay đã cản ta đến làm đổ huyết và ngăn ta dùng chính tay mình mà báo thù cho mình. Nhưng ta chỉ Giê-hô-va Ðức Chúa Trời hằng sống của Y-sơ-ra-ên, là Ðấng đã cản ta làm điều ác, mà thề rằng, nếu nàng không vội vàng đến đón ta, thì đến sáng mai, phàm vật gì thuộc về Na-banh sẽ chẳng còn lại vật mọn hơn hết. Vậy, Ða-vít nhận lễ vật do nơi tay nàng đem đến cho người, và nói rằng: Hãy trở lên nhà ngươi bình an. Hãy xem, ta đã nghe theo tiếng ngươi, và tiếp ngươi tử tế (I Sa-mu-ên 25:32-34)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu chuyện của Na-banh và Đa-vít nằm xen kẻ giữa những câu chuyện của Sau-lơ rượt đuổi Đa-vít. Qua câu chuyện này, tác giả sách Sa-mu-ên muốn cho chúng ta thấy Na-banh chính là hiện thân của Sau-lơ trong một số phương diện sau đây: (a) tâm tính và thái độ của Na-banh đối với Đa-vít và sự chết bất đắc kỳ tử của ông cũng tương tự như trường hợp của vua Sau-lơ (1 Sa 13:13; 26:21); (b) thái độ muốn báo thù của Đa-vít đối với Na-banh là rất tự nhiên và cũng giống như trường hợp ông đối với vua Sau-lơ. Nhưng Chúa đã ngăn trở Đa-vít làm điều đó vì ông là người được Chúa xức dầu; và (c) A-bi-ga-in ngăn trở Đa-vít báo thù và nhắc ông nhớ rằng ông là người Chúa xức dầu để làm vua dân sự của Ngài. Việc sau này Đa-vít cưới A-bi-ga-in để thay thế cho Mi-canh mà ông đã bị Sau-lơ lấy lại gã cho người khác nhằm cắt đứt mọi mối liên hệ hầu sau này Đa-vít không còn cơ hội quay lại cung điện của vua để làm vua! Đức Chúa Trời đứng ra đối đầu với Sau-lơ thay cho Đa-vít và bù lại cho ông những gì ông bị kẻ thù làm thiệt hại. Điều đó chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời đẹp lòng về Đa-vít và Ngài đang ở cùng ông.&lt;br /&gt;Đối với Sau-lơ, Đa-vít rất dễ dàng nhận chân ra Sau-lơ là người được Chúa xức dầu và ông hứa nguyện rằng sẽ không bao giờ đụng đến “người được xức dầu” của Ngài. Tuy nhiên, có một loại hình thức không kém nguy hiểm như Sau-lơ mà Chúa muốn Đa-vít phải nhận ra đó chính là con người của Na-banh. Na-banh có mối liên hệ máu mủ ruột thịt gì với Sau-lơ hay không thì chúng ta hoàn toàn không rõ. Tuy nhiên, điều rõ ràng là Na-banh hết mực bênh vực cho Sau-lơ và cho rằng Đa-vít là một con người phản vua và trốn chạy không hơn không kém, khi ông nói với những đầy tớ của Đa-vít bằng một giọng điệu vô cùng mỉa mai: “Ai là Ða-vít? Ai là con trai của Y-sai? Những tôi tớ trốn khỏi chủ mình, ngày nay lấy làm đông thay!” (25:10). Những lời lẽ này cho thấy Na-banh hoàn toàn đứng về phía của Sau-lơ và phỉ báng Đa-vít. Chính vì thế, Na-banh thẳng thừng từ khước việc làm ơn cho Đa-vít và những người theo ông, mặc dầu Đa-vít đã làm ơn cho Na-banh và gia đình ông rất nhiều. Na-banh thật đã “lấy oán trả ơn” cho Đa-vít (25:21). Lời nói và thái độ của Na-banh như lưỡi gươm đâm thấu vào và làm tổn thương sâu xa tấm lòng của Đa-vít. Chính vì thế mà Đa-vít tức giận và muốn trả thù ngay lập tức. Lòng căm giận khiến cho Đa-vít thiếu khôn ngoan và bình tĩnh nhận ra một loại kẻ thù khác đang có nguy cơ tàn diệt đời sống thuộc linh và làm hỏng đi cả một chương trình tốt đẹp của Đức Chúa Trời dành cho cuộc đời của ông và dân sự của Ngài.&lt;br /&gt;Tin Đa-vít muốn trả thù vì lời nói sặc mùi vô ơn của Na-banh đã bay đến tai của vợ Na-banh là A-bi-ga-in. Bà là một người vợ khôn ngoan đã có phản ứng rất khiêm nhường khiến cho cơn tức giận của Đa-vít nguôi xuống và thức tỉnh tâm trí của ông. Trước hết, A-bi-ga-in cho Đa-vít thấy rằng con người của ông tốt đẹp và cao quý gấp bao nhiêu lần so với chồng của bà là Na-banh. Bà đưa ra nhận định về Na-banh là một con người “hung ác” (25:25). Trong nguyên văn, từ “hung ác” (wicked) được dùng chỉ về những người thuộc Bê-li-an là Sa-tan (Phục truyền 13:13; 2 Cô-rinh-tô 6:15). Điều A-bi-ga-in muốn nói là con người Na-banh đang bị thống trị bởi quyền lực của ma quỷ (giống như trường hợp của vua Sau-lơ) nên hành động như thế. Trong khi đó, Đa-vít là một con người được Chúa xức dầu, đang ở trong một vị trí cao trọng hơn Na-banh nhiều, không nên vì một chuyện nhỏ mà sanh lòng tự ái, đem mình xuống ngang hàng với Na-banh để hơn thua với ông. Kế đến, A-bi-ga-in cho Đa-vít thấy rằng Đức Chúa Trời đã chọn ông làm vua và Ngài có một chương trình vô cùng tốt đẹp cho ông trong tương lai. Chính vì thế, nàng khuyên và can ngăn Đa-vít đừng vì những gì xảy ra trong hiện tại mà hành động thiếu bình tĩnh hay khôn ngoan. Điều đó sẽ để lại một vết nhơ gây ra bởi những hành động ngu dại có thể làm hoan ố đi một bức tranh thật tuyệt vời mà Đức Chúa Trời muốn tạo nên cho cuộc đời của Đa-vít. A-bi-ga-in cho ông thấy rằng những hành động nông nổi hiện tại có thể để lại những đau buồn và tiếc nuối chẳng bao giờ xóa nhòa trong tâm trí và cuộc đời của Đa-vít sau này khi trở về già hay lúc lên ngai làm vua của dân sự thánh. Tóm lại, Đức Chúa Trời muốn dùng A-bi-ga-in để giữ cho cuộc đời của Đa-vít như một bức tranh đẹp, không bị tàn phá bởi những hành động thiếu suy nghĩ và nóng nảy trong hiện tại. Đó là dấu hiệu ân sủng và sự xức dầu của Ngài còn trên cuộc đời của Đa-vít, “người theo lòng của Đức Chúa Trời.” Ngài đã nắm giữ con người của Đa-vít để ông không phải làm đổ huyết và báo thù về điều Na-banh đã làm đối với ông trong những ngày cùng khốn của cuộc đời trốn chạy khỏi Sau-lơ.&lt;br /&gt;Nhưng câu chuyện không phải dừng lại tại đó. Tác giả cho thấy khi Đa-vít nhường cho Đức Chúa Trời quyền báo thù thì Ngài ra tay để báo thù thay cho ông. Sau khi A-bi-ga-in thuật lại mọi việc cho Na-banh nghe thì “lòng người bèn kinh hoảng, trở thành như đá” (25:37). Cụm từ “lòng người bèn kinh hoảng” (his heart failed) được dùng để diễn tả một trong hai triệu chứng mà Na-banh đã gặp phải: hoặc là bị đột quỵ (stroke) hoặc là bị nhồi máu cơ tim (heart attack). Hậu quả là Na-banh “thành như đá” (he became like a stone). Có thể đây là tình trạng nằm liệt gường do cơn đột quỵ gây ra. Và số phận mà Đức Chúa Trời ban cho Na-banh như thế này: “Cách chừng mười ngày sau, Đức Giê-hô-va đánh Na-banh, và người chết” (25:38). Đa-vít giữ mình không đem quân đi “đánh” Na-banh thì chính Đức Chúa Trời “đánh” thế cho ông. Một lần nữa, tác giả sách Sa-mu-ên muốn minh chứng rằng khi Na-banh đụng đến “người chịu xức dầu” của Chúa, mặc dầu chỉ bằng lời nói mà thôi, thì Ngài cũng báo thù cho việc làm đó thật khủng khiếp là dường nào! Vì có những điểm tương đồng giữa Na-banh và vua Sau-lơ, cho nên sự chết của Na-banh là lời tiên tri về số phận của vua Sau-lơ sau này.&lt;br /&gt;Là người lãnh đạo thuộc linh, chúng ta rất dễ dàng bị điều khiển bởi lòng căm thù vì bị tổn thương do người khác gây ra. Trong những trường hợp như thế chúng ta sẽ mất bình tĩnh, thiếu khôn ngoan, và phản ứng vụng dại. Có thể rằng chúng ta biết giữ mình trong một số trường hợp nào đó mà mình dễ nhận chân ra kẻ thù cách rõ rệt. Nhưng ma quỷ rất tinh khôn và quỷ quyệt. Nó sẽ đưa đến chúng ta những loại kẻ thù tương tự nhưng mang một sắc thái khác để đánh lừa chúng ta. Khi đó, nếu không cẩn thận, được ân sủng của Chúa bao phủ và sự xức dầu của Ngài canh giữ, chúng ta sẽ hành động nông nổi và ngu dại, để lại những hậu quả không lường hết được, hủy phá cả một bức tranh đẹp của cuộc đời mà Chúa đã dự định cho chúng ta. Khi một người đã bị Đức Chúa Trời lìa bỏ thì lòng người ấy trở nên cứng cỏi và hành động vô cùng ngu dại, tự hủy hoại chính mình, gây tai hại đến biết bao cuộc đời và hội thánh của Đức Chúa Trời. Đó là dấu hiệu cho thấy Đức Chúa Trời đã cất đi ân sủng (disgraced) và sự xức dầu của Ngài trên người đó để nắm giữ họ. Khi ấy, chẳng có điều gì người đó không thể làm vì hoàn toàn bị chi phối bởi quyền lực của ma quỷ, bản ngã và tội lỗi. Nhưng khi một cuộc đời vẫn còn nằm trong sự bao phủ của ân sủng Chúa và sự xức dầu của Ngài, chính Ngài sẽ bảo vệ và canh giữ cuộc đời của người đó, để rồi không phải hành động ngu dại và nông nổi, hủy phá cuộc đời của mình, gây tan thương đau buồn cho người khác, và ngay cả cho hội thánh của Đức Chúa Trời.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2683049842822975878-7271709944829712062?l=atcprincipal.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/7271709944829712062'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/7271709944829712062'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://atcprincipal.blogspot.com/2011/07/dau-hieu-cua-sung-va-su-xuc-dau-tren.html' title='Dấu hiệu của ân sủng và sự xức dầu'/><author><name>Trần Trọng Nha, PhD</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00164744445826832009</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='29' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/-WgylZ-R6OPk/TxDbCMVpd5I/AAAAAAAAAHI/gp7b0xrc8OE/s220/MSNha.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2683049842822975878.post-936215096500043267</id><published>2010-11-03T08:44:00.000-07:00</published><updated>2010-12-14T01:01:20.629-08:00</updated><title type='text'>Chức việc của Nhà Lãnh đạo Thuộc linh</title><content type='html'>"Ta ở trước mặt Ðức Chúa Trời và trước mặt Ðức Chúa Jêsus Christ là Ðấng sẽ đoán xét kẻ sống và kẻ chết, nhơn sự đến của Ngài và nước Ngài mà răn bảo con rằng: hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi. Vì sẽ có một thời kia, người ta không chịu nghe đạo lành; những vì họ ham nghe những lời êm tai, theo tư dục mà nhóm họp các giáo sư xung quanh mình, bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn. Nhưng con, phải có tiết độ trong mọi sự, hãy chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành, mọi phận sự về chức vụ con phải làm cho đầy đủ" (II Ti-mô-thê 4:1-4)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Suy gẫm:&lt;br /&gt;Đây là những lời tâm huyết cuối cùng của sứ đồ Phao-lô để lại cho Ti-mô-thê, nhà lãnh đạo thuộc linh của Hội Thánh Đức Chúa Trời tại thành phố Ê-phê-sô. Trước hết, sứ đồ Phao-lô nói: "Ta ở trước mặt Ðức Chúa Trời và trước mặt Ðức Chúa Jêsus Christ là Ðấng sẽ đoán xét kẻ sống và kẻ chết, nhơn sự đến của Ngài và nước Ngài mà răn bảo con." Việc khuyên bảo Ti-mô-thê mang tính chất long trọng (solemn) và vô cùng quan trọng vì được thực hiện trước mặt (sự hiện diện) Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jesus Christ là Đấng sẽ đoán xét kẻ sống và kẻ chết. Khi nói điều này, sứ đồ Phao-lô cho Ti-mô-thê biết rằng mọi sinh hoạt trong đời sống cá nhân và chức vụ công khai của ông đều ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jesus Christ. Hơn nữa, chỉ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jesus Christ là Đấng mà ông phải khai trình lại về đời sống và chức vụ của mình, và Ngài là thẩm quyền tối hậu thẩm định đời sống và chức vụ của ông. Lắm khi người hầu việc Chúa quá quen thuộc với chức vụ và con người lại quên hẳn điều này. Chính vì thế, chúng ta đánh mất đi tính chất thiêng liêng và cao trọng của chức vụ mình. Khi một người hầu việc Chúa hay nhà lãnh đạo thuộc linh đánh mất đi sự cẩn trọng này trong chức vụ, người đó sẽ xem chức vụ như một nghề nghiệp và hội thánh như một tổ chức của đời, và không từ chối làm bất cứ điều tồi lệ nào mình có thể làm. Khi ấy, người đó sẽ phạm từ sai lầm này đến sai lầm khác vì xem mình là chúa của mình, không có ai để mình phải khai trình lại. Họ khác với vua Đa-vít ngày xưa đã nói: Tôi hằng để Đức Giê-hô-va trước mặt tôi (Thi thiên 16:8a) khi ông thi hành chức vụ của mình. Thêm vào đó, sứ đồ Phao-lô nhấn mạnh đến tính chất cấp bách và cận kề (imminent) của sự tái lâm của Chúa Jesus qua việc ông sử dụng thì tương lai gần. Như thế, vị sứ đồ tin rằng Chúa càng gần trở lại chừng nào, ông càng phải thi hành chức vụ mình cách cẩn trọng và rao giảng Tin Lành của Ngài cho mọi người chừng nấy.&lt;br /&gt;Sự tái lâm của Chúa Jesus Christ thôi thúc người lãnh đạo thuộc linh buộc mình vào trong chức vụ rao giảng Tin Lành mà không tùy thuộc vào hoàn cảnh: "Hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi." Hoàn cảnh chung quanh và hiện tại không thể là lý cớ làm cho người lãnh đạo thuộc linh trì hoãn hay chán nãn trong việc rao giảng Tin Lành. Người đó cần có một cái nhìn xuyên suốt vào cõi đời đời và thấy Đấng đang đứng cuối đường để đón tiếp những đầy tớ “ngay lành và trung tín” của Ngài. Thay vì ngồi bó gối và bi quan về hoàn cảnh hay tình trạng của những ngày cuối cùng, người lãnh đạo thuộc linh cần phải chống chọi lại những lượn sóng thế tục đang lan tràn bằng tinh thần tích cực như: cố khuyên, lấy lòng nhịn nhục, và cứ dạy dỗ chẳng thôi. Đứng trước tình trạng thuộc linh đổ nát của hội thánh, trách nhiệm của nhà lãnh đạo thuộc linh là: bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, dạy dỗ. Muốn làm được những việc như thế, đời sống và chức vụ của người lãnh đạo thuộc linh phải thánh khiết, ngay thẳng, chân thật. Bằng không những điều họ nói sẽ trở thành bản án cho chính mình.&lt;br /&gt;Sứ đồ Phao-lô giải thích lý do của việc phải hết lòng thi hành chức vụ của mình: "Vì sẽ có một thời kia, người ta không chịu nghe đạo lành; nhưng vì họ ham nghe những lời êm tai, theo tư dục mà nhóm họp các giáo sư xung quanh mình, bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn." Đây là dấu hiệu của thời kỳ cuối cùng. Người ta không muốn nghe “đạo lành” (sound teaching) nhưng thích nghe những lời êm tai (itching ears) là những điều đem lại thích thú cho tâm trí và bản tánh xác thịt, thay vì mang lại sự gây dựng đời sống thuộc linh. Những giáo sư giả quy tụ chung quanh mình những thành phần không vững vàng về đạo lành và chân chính, tiêm nhiễm dân sự Chúa bằng những lý lẽ huyền hoặc nghe tưởng chừng như là đạo thật mà là đạo giả. “Chuyện huyễn” là những câu chuyện mang tính hoang đường, xây dựng trên sự dối trá của các giáo sư giả tại Ê-phê-sô và Cơ-rết (1 Ti 1:4; 4:7; và Tít 1:14). Khi con người đã mở tai cho những chuyện huyễn thì họ sẽ “bịt tai không nghe lẽ thật.”&lt;br /&gt;Ngược lại với các giáo sư giả chuyên nói chuyện huyễn, sứ đồ Phao-lô khuyên Ti-mô-thê như sau: "Nhưng con, phải có tiết độ trong mọi sự, hãy chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành, mọi phận sự về chức vụ con phải làm cho đầy đủ." “Nhưng con” đồng nghĩa với “còn về phần con.” Đây là một sự phân biệt rõ ràng giữa giáo sư giả và giáo sư thật chuyên giảng dạy Lời Chúa. Đặc điểm của người rao giảng Lời Chúa và nhà lãnh đạo thuộc linh chân chính là: tiết độ (self-controlled) hay có một tâm trí tỉnh táo (clear-mindedness). Người tiết độ là người vừa phải, không thái quá cũng không buông thả, biết kiểm soát chính mình. Đức tính này thông thường gắn liền với sự tái lâm của Chúa Jesus Christ. Người thế gian hay giáo sư giả không quan tâm đến sự tái lâm của Chúa Jesus, nhưng nhà lãnh đạo thuộc linh chân chính sẽ luôn quan tâm đến sự kiện quan trọng này vì đó chính là động cơ thúc đẩy họ rao giảng lẽ thật. Chẳng những phải tiết độ nhưng còn phải chịu khổ (enduring suffering or hardship) vì Tin Lành mình rao giảng. Không ai muốn rao giảng Tin Lành chân thật mà lại không phải chịu khổ vì đó là cách chia sẻ sự thương khó với Chúa Jesus. Khi một nhà lãnh đạo thuộc linh làm việc của người giảng Tin Lành thì chắc chắn phải chịu khổ vì Tin Lành, không phải do lối sống không tin kính của mình gây ra. Nhưng không vì khổ mà không làm việc của người giảng Tin Lành và không làm trọn chức vụ của mình. Vì thế, khi làm nhà lãnh đạo thuộc linh mà không làm công việc “thuộc linh” thì tự mình chứng tỏ rằng không còn là một người được Chúa chọn để làm công việc của Ngài. Trách nhiệm và công việc của người hầu việc Chúa là giảng Tin Lành chứ không phải "tin dữ," cứu người chứ không phải giết người, yên ủi và khích lệ người khác đến gần Chúa chứ không phải dựng chuyện dối trá và học thói điêu ngoa của đời để tố cáo người khác hay anh em đồng lao (2 Cô-rinh-tô 10:8). Khi làm công việc của người giảng "tin dữ" hay dối trá tức là chúng ta đang làm công việc của ma quỷ, không phải công việc của Đức Chúa Trời, đánh mất uy quyền trong sự giảng dạy và khiến cho con dân Chúa ngán ngẫm sự giảng dạy của mình. Khi một nhà lãnh đạo thuộc linh làm trọn chức vụ mình thì sẽ không còn thì giờ để tố cáo, kiện thưa người khác. &lt;br /&gt;Chúng ta đang sống trong những ngày cuối cùng trước khi Chúa trở lại, ngày càng nhiều nhà lãnh đạo thuộc linh bị băng hoại, biến chất, bỏ chức vụ và hội thánh trốn để chạy cứu lấy mạng sống mình, tìm kiếm cuộc sống an nhàn do vật chất và thế gian ban cho, tố cáo nhau và ghen ghét nhau. Là những nhà lãnh đạo thuộc linh chân chính chúng ta cần phải quyết tâm nhờ ơn Chúa giữ đời sống sống thánh khiết, sống cách ngay thật để có thể rao giảng lẽ thật của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải là những con người giảng Tin Lành chân thật, sẵn sàng chịu khổ vì Tin Lành mình rao giảng, làm việc của người giảng Tin Lành, và làm trọn chức vụ Chúa và Hội Thánh giao phó. Xin Chúa thương xót mỗi người chúng ta là những nhà lãnh đạo thuộc linh của Hội Thánh Ngài trong khi chờ đợi Chúa Jesus yêu dấu chúng ta trở lại. Amen!&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2683049842822975878-936215096500043267?l=atcprincipal.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/936215096500043267'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/936215096500043267'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://atcprincipal.blogspot.com/2010/11/ta-o-truoc-mat-uc-chua-troi-va-truoc.html' title='Chức việc của Nhà Lãnh đạo Thuộc linh'/><author><name>Trần Trọng Nha, PhD</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00164744445826832009</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='29' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/-WgylZ-R6OPk/TxDbCMVpd5I/AAAAAAAAAHI/gp7b0xrc8OE/s220/MSNha.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2683049842822975878.post-2334536805357669371</id><published>2010-06-28T01:56:00.000-07:00</published><updated>2010-07-02T08:43:29.339-07:00</updated><title type='text'>Chọn Người Lãnh Đạo Thuộc Linh</title><content type='html'>Tít (Titus) 1:5-9&lt;br /&gt;"Ta đã để con ở lại Cơ-rết, đặng sắp đặt mọi việc chưa thu xếp, và theo như ta đã răn bảo cho con mà lập những trưởng lão trong mỗi thành. Mỗi người trong vòng trưởng lão đó phải cho không chỗ trách được, chỉ chồng của một vợ; con cái phải tin Chúa, không được bị cáo là buông tuồng hoặc ngỗ nghịch. Vì người giám mục làm kẻ quản lý nhà Ðức Chúa Trời thì phải cho không chỗ trách được. Chẳng nên kiêu ngạo, giận dữ, ghiền rượu, hung tàn, tham lợi; nhưng phải hay tiếp đãi khách, bạn với người hiền, khôn ngoan, công bình, thánh sạch, tiết độ, hằng giữ đạo thật y như đã nghe dạy, hầu cho có thể theo đạo lành mà khuyên dỗ người ta và bác lại kẻ chống trả"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Suy gẫm:&lt;br /&gt;Sứ đồ Phao-lô để Tít tại đảo Cơ-rết (Crete) trong một bối cảnh vô cùng khó khăn và phức tạp. Sự phức tạp và khó khăn mà Tít đối diện không phải do sự suy thoái của nền kinh tế gây nên nhưng là sự suy đồi và băng hoại về đạo đức của xã hội bên ngoài đang bò dần vào trong Hội Thánh của Chúa. Để có thể giữ vững được con thuyền thuộc linh mà không bị nhận chìm bởi dòng nước thế tục dơ nhớp, sứ đồ Phao-lô cho biết Hội Thánh cần phải có những nhà lãnh đạo thuộc linh chân chính. Đây là phương cách duy nhất để cho Hội Thánh đối phó, chống chọi, bảo tồn, và phát triển giữa một xã hội đen nghịt. Tít được Phao-lô ủy thác một công tác vô cùng quan trọng là lựa chọn người lãnh đạo cho Hội Thánh. Sứ đồ Phao-lô đưa ra tiêu chuẩn để Tít dựa vào đó chọn người lãnh đạo thuộc linh cho Hội Thánh Đức Chúa Trời hoàn toàn thuộc trong phạm trù nhân cách (chính con người) hơn là tài năng của người lãnh đạo.Tiêu chuẩn này được tóm lại trong cụm từ “không chỗ trách được” (beyond or above reproach hay without fault). Phẩm chất thuộc linh này rất quan trọng nên ông nhắc đến hai lần (c. 6, 7). “Không chỗ trách được” có thể được hiểu là “điều kiện ắt có và đủ” của người lãnh đạo thuộc linh. Một người “không chỗ trách được” có nghĩa là người không ai có thể kiện cáo hay buộc tội vì hành động và đời sống của người đó. Người ta có thể “vu cáo” nhưng không thể “kiện cáo” người đó. Người đó cũng chẳng đi kiện cáo ai vì đó là việc làm của ma quỷ (Gióp 1:6-10; Khải 12:10).&lt;br /&gt;Sứ đồ Phao-lô giải thích tình trạng “không chỗ trách được” trước hết là người có một gia đình gương mẫu: chồng một vợ, con cái phải tin Chúa và không sống buông tuồng phóng đãng theo tình dục và không biết vâng lời như người chưa tin Chúa. Cụm từ “con cái phải tin Chúa” đồng nghĩa với việc “giữ con cái mình cho vâng phục” (1 Ti-mô-thê 3:4). Ở đây sứ đồ Phao-lô không phân biệt con cái đã trưởng thành lập gia đình riêng hay chưa, vì dẫu cho lập gia đình rồi thì cũng vẫn là con của mình. Con cái là sản phẩm của sự giáo dục và bản tính di truyền của cha mẹ. Sứ đồ Phao-lô nói làm thế nào chúng ta biết một người có thể lãnh đạo Hội Thánh của Đức Chúa Trời hay không? Hãy nhìn vào gia đình của người đó, cách người đó nuôi dạy con cái. Con cái chính là sản phẩm của đời sống thuộc linh và đạo đức của họ. Theo Phao-lô, người lãnh đạo thuộc linh là người quản lý nhà của Đức Chúa Trời mà không biết dạy dỗ con cái thì làm sao cai trị được nhà của Đức Chúa Trời là Hội Thánh? Nếu họ đã không đủ tiêu chuẩn cai trị nhà riêng mình thì làm sao đủ tiêu chuẩn cai trị cả nhà của Đức Chúa Trời? Người đó chưa thấu triệt được nguyên tắc này: “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.”&lt;br /&gt;Sự “không chỗ trách được” của người lãnh đạo có nghĩa là “không kiêu ngạo, giận dữ, ghiền rượu, hung tàn và tham lợi.” Từ “kiêu ngạo” ở đây nói đến bản chất kiêu căng thừa hưởng nơi ma quỷ (2 Phi 2:10). Người kiêu căng hay kiện cáo người khác vì cho rằng mình đúng và người khác sai. Đây là sự mù lòa tâm linh xuất phát từ bản chất chưa được Chúa Thánh Linh tái tạo và biến đổi. Còn tính “giận dữ” được hiểu là tính mau giận hay mau phản ứng khi bị người khác đụng chạm đến danh dự hay chỉ ra những khuyết điểm của mình. Người đó sẽ mau nói, mau hành động để lộ cho người khác thấy con người thật của mình. Người lãnh đạo như thế sẽ gây nên sự tàn diệt hơn là gây dựng Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Đặc điểm “ghiền rượu” và “hung tàn” đi chung với nhau trong các Thư tín Giám mục của Phao-lô (1 Ti-mô-thê 3:3 và Tít 1:7). Vì để cho rượu điều khiển nên sanh ra hung tàn. Ngày nay có khi người lãnh đạo không bị say bởi “men” nhưng bị say bởi “cái tôi” tức là bị lòng tự ái, ganh tị, và tánh kiêu căng xui khiến để hung tàn và hành quyền (power abuse) cách không phù hợp với Lời Chúa, gây bao điều khổ não cho con dân Chúa và ô nhục cho danh vinh hiển của Ngài. “Tham lợi phi nghĩa” là điều không thể chấp nhận cho người lãnh đạo thuộc linh. Người lãnh đạo thuộc linh mà hay nói đến vấn đề tiền bạc là người có vấn đề về tiền bạc. Chức vụ người đó bị điều khiển bởi tiền bạc, nhìn mọi sự qua lăng kính tiền bạc, dùng tiền bạc để mua chuộc người khác nhằm tạo uy thế trong chức vụ. Họ tham tiền cho nên nghĩ ai cũng tham tiền như mình.&lt;br /&gt;Thay vì những điều tiêu cực nêu trên, sứ đồ Phao-lô nói biểu hiện sự “không chỗ trách được” là “hay tiếp đãi khách, bạn với người hiền, khôn ngoan, công bình, thánh sạch, tiết độ, hằng giữ đạo thật y như đã nghe dạy.” Thay vì quan tâm đến phúc lợi và củng cố địa vị của mình, người lãnh đạo thuộc linh chân chính nghĩ đến người khác và sống bày tỏ vẻ đẹp của Chúa Jesus. “Bạn với người hiền” còn có nghĩa là người yêu mến những điều tốt lành. Người lãnh đạo tốt yêu mến những con người thuộc linh, không đứng và làm bạn với những con người xác thịt để làm những điều đem lại sự thỏa mãn cho bản tánh xác thịt. “Khôn ngoan” hay đúng hơn là có tâm trí tỉnh táo và sáng suốt để nhận định vấn đề. “Công bình” và “thánh sạch thường hay đi chung với nhau. “Công bình” nói đến việc tuân giữ luật pháp của Chúa và bày tỏ ra trong mối quan hệ với con người. Còn “thánh sạch” bàn đến khía cạnh tương quan với Chúa trong việc tuân giữ những đòi hỏi về đạo đức. Hai điều này rất cần cho người lãnh đạo thuộc linh giống như hai cây trụ chống đỡ đời sống thuộc linh của họ. “Tiết độ” liên quan đến tinh thần tự kỷ luật, không làm điều gì quá mấu hay quá khích, biết kiềm chế chính mình khi đối diện với sự bị tổn thương. Các đức tính “khôn ngoan, công bình, thánh sạch, tiết độ” là biểu hiện sự hiện diện đầy dẫy của Chúa Thánh Linh trong đời sống. “Hằng giữ đạo thật y như đã nghe dạy” liên quan đến khả năng hấp thụ những lời dạy của các sứ đồ và chuyển tải thành hành động bởi kinh nghiệm sống. Chính vì thế, người đó có khả năng khích lệ người khác theo đạo lành và bác lại những kẻ chống trả. &lt;br /&gt;Có hai yếu tính trong phẩm chất “không chỗ trách được” mà Kinh Thánh Tân Ước đề cập đến: (a) đó là kết quả việc làm của Chúa trong đời sống của người tin Chúa thật (1 Cô-rinh-tô 1:8 và Cô-lô-se 1:22). Sứ đồ Phao-lô nói đây chính là dấu hiệu của một người được Chúa biến đổi và cũng là điểm đến cuối cùng trong hành trình thuộc linh của đời sống Cơ đốc; và (b) đó là kết quả của một tiến trình thử thách và dấu hiệu không thể thiếu được của người lãnh đạo thuộc linh (1 Ti-mô-thê 3:10; Tít 1:6, 7). Như vậy, phẩm chất “không chỗ trách được” là việc của Đức Chúa Trời làm ra trong đời sống của một con người thật lòng tin Chúa và là dấu hiệu để cho Hội Thánh của Đức Chúa Trời nhận ra rằng người đó là một nhà lãnh đạo thuộc linh. Nếu một người kinh qua những thử thách của chức vụ mà thất bại thì người đó không còn xứng đáng ở trong vị trí lãnh đạo dân sự Đức Chúa Trời vì ân sủng của Chúa đã rút khỏi người đó như trường hợp của vua Sau-lơ ngày xưa. Qua thử thách, Sau-lơ chứng minh rằng mình không còn đủ tiêu chuẩn làm người lãnh đạo thuộc linh vì phẩm chất “không chỗ trách được” không còn chỗ trong đời sống của ông. &lt;br /&gt;Hội Thánh của Đức Chúa Trời trải qua các thời đại có những lúc phải đi qua những ngày đen tối do ảnh hưởng của tinh thần thế tục. Làm thế nào Hội Thánh của Chúa có thể đứng vững và vượt qua được những khó khăn và đứng thẳng để đối đầu với sự thế tục hóa và “giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuốc trong thế gian”? Đó là trách nhiệm của Hội Thánh phải chọn cho mình những nhà lãnh đạo “không chỗ trách được.” Hội Thánh luôn luôn cần có người tài để làm công việc Chúa. Nhưng chữ tài ở đây có nghĩa là tài đức chứ không phải là tài tình về chánh trị, thủ đoạn, mưu mẹo, mánh khóe, và gian dối. Có tài mà không có đức thì đó là một tai họa và không sớm thì muộn sẽ bị lộ ra và gây cho Hội Thánh của Đức Chúa Trời điên đảo, khốn khổ. Có thể trong thời gian người tài mà vô đạo đức có vẻ thành công. Nhưng về lâu về dài thì sẽ giống như vua Sau-lơ, A-háp, và Hê-rốt. Hội Thánh của Đức Chúa Trời cần những người có đức độ thuộc linh, có lòng kính sợ Chúa, và có tấm lòng chánh trực, liêm khiết, can đảm đối diện sự thật và sống chết cho lẽ thật.&lt;br /&gt;Nhìn lại 100 năm của lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, Đức Chúa Trời đã từng ban cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam chúng ta những nhà lãnh đạo tin kính Chúa như: Mục sư Hoàng Trọng Thừa, Mục sư Lê Văn Thái, Mục sư Ông Văn Huyên, Mục sư Đoàn Văn Miêng, Mục sư Phạm Xuân Tín, Mục sư Phạm Xuân Thiều. Cầu xin Đức Chúa Trời tiếp tục đoái thương ban cho Hội thánh Việt Nam chúng ta những nhà lãnh đạo thuộc linh xứng đáng để dẫn đưa dân sự của Ngài đến “đồng cỏ xanh tươi, mé nước bình tịnh” (Thi-thiên 23). Nhưng sự ban cho này của Đức Chúa Trời được ủy thác cho dân sự Đức Chúa Trời trong việc họ chọn người lãnh đạo cho mình. Chọn người lãnh đạo là trách nhiệm của Hội Thánh Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ban cho Hội Thánh của Ngài quyền tự do để lựa chọn cho mình những nhà lãnh đạo xứng đáng hầu mang lại sự gây dựng cho đời sống thuộc linh của con dân Chúa, danh Chúa không bị bêu xấu giữa vòng người ngoại. Chúng ta không thể quy hết trách nhiệm cho Đức Chúa Trời vì Ngài ban cho chúng ta quyền tự do để chọn người lãnh đạo của mình. Việc chọn người lãnh đạo sẽ quyết định cho cả số phận của một cộng đồng đức tin và dân tộc.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2683049842822975878-2334536805357669371?l=atcprincipal.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/2334536805357669371'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/2334536805357669371'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://atcprincipal.blogspot.com/2010/06/chon-nguoi-lanh-ao-thuoc-linh.html' title='Chọn Người Lãnh Đạo Thuộc Linh'/><author><name>Trần Trọng Nha, PhD</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00164744445826832009</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='29' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/-WgylZ-R6OPk/TxDbCMVpd5I/AAAAAAAAAHI/gp7b0xrc8OE/s220/MSNha.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2683049842822975878.post-2834048547930517069</id><published>2010-03-30T00:21:00.000-07:00</published><updated>2010-04-01T09:43:39.337-07:00</updated><title type='text'>Trách nhiệm đối với người Lãnh đạo</title><content type='html'>1 Ti-mô-thê (Timothy) 5:17-20&lt;br /&gt;Các trưởng lão khéo cai trị Hội thánh thì mình phải kính trọng bội phần, nhứt là những người chịu chức rao giảng và dạy dỗ. Vì Kinh Thánh rằng: Ngươi chớ khớp miệng con bò đương đạp lúa; và người làm công thì đáng được tiền công mình. Ðừng chấp một cái đơn nào kiện một trưởng lão mà không có hai hoặc ba người làm chứng. Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Suy gẫm:&lt;br /&gt;Trong thư gửi cho người con thuộc linh là Ti-mô-thê, sứ đồ Phao-lô đưa ra lời hướng dẫn biết cách nào để điều hành công việc Chúa trong Hội thánh tại Ê-phê-sô. Đây cũng là nguyên tắc làm việc chung trong hội thánh của Chúa trải qua các thời đại.  Tại đây, sứ đồ nói đến trách nhiệm của hội thánh của Chúa đối với những người lãnh đạo hội thánh địa phương nói riêng và hội thánh toàn cầu nói chung. Sự lãnh đạo ngày xưa trong hội thánh nằm trong tay các trưởng lão (elders) hay còn gọi là giám mục (bishops) (1 Ti-mô-thê 3:1-8; Tít 1:5-9). Trong hội thánh địa phương, trưởng lão hay giám mục chính yếu chuyên trách sự giảng dạy, còn chấp sự (deacons) chuyên trách hành chánh. Theo tinh thần này, một số hội thánh trong một vài giáo phái ngày nay cũng có hai chức vụ chính yếu: mục sư và chấp sự. Trách nhiệm chính của Mục sư là chăm lo đời sống tâm linh của con dân Chúa bằng sự giảng dạy, chăm sóc, khải đạo; còn ban Chấp sự giúp mục sư để chuyên lo về hành chánh và các vấn đề liên quan đến phương diện thuộc thể của con cái Chúa trong hội thánh. Sứ đồ Phao-lô đưa ra những lời khuyên và hướng dẫn sau đây cho Ti-mô-thê lẫn hội thánh để biết cách đối xử với những người lãnh đạo trong hội thánh như thế nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hội thánh phải biết kính trọng chức vụ và chăm lo đời sống của người lãnh đạo hội thánh. Sứ đồ Phao-lô đưa ra một đặc điểm rất quan trọng của người lãnh đạo hội thánh cần phải có để được người khác kính trọng là “khéo cai trị hội thánh.” Trong nguyên văn Tân Ước, từ “khéo cai trị” có nghĩa là “lãnh đạo cách có hiệu quả” hay “lãnh đạo giỏi.” Sứ đồ Phao-lô không nói đến sự “khéo léo” của tài mưu mẹo, luồng lách, tráo trở, thủ đoạn, gian dối, hay độc tài của người lãnh đạo thế tục, nhưng là việc dùng Lời Chúa làm căn bản cho chức vụ của mình và lãnh đạo dân sự Chúa bằng sự công chính, ngay thẳng, thanh liêm, nhu mì, khiêm nhường, và biết tôn trọng người khác. Nhiên hậu, hội thánh của Chúa sẽ tôn trọng người lãnh đạo kính sợ Chúa bội phần hơn, nhất là người có chức vụ rao giảng và dạy dỗ Lời Chúa. Người lãnh đạo hội thánh có được sự tôn trọng là do nếp sống đạo đức, tin kính, và ân tứ giảng dạy Chúa ban, chứ không phải vì có chức vụ. Người lãnh đạo không thể đòi hỏi người khác tôn trọng mình vì có chức vụ nhưng phải do đời sống mẫu mực và cách thi hành chức vụ của mình đối với dân sự của Ngài. Từ “tôn trọng” (honor) tại đây cùng nghĩa với từ ngữ “kính trọng” trong I Ti-mô-thê 5:3 phía trên, bao gồm cả sự kính trọng lẫn cung cấp nhu cầu vật chất cho người được kính trọng. Từ “bội phần” có nghĩa là “gấp đôi.” Như thế, sứ đồ Phao-lô nói hội thánh của Chúa phải có trách nhiệm kính trọng và chăm lo đời sống vật chất cho người hầu việc Chúa, là những người hết lòng yêu mến Chúa và yêu mến hội thánh của Ngài, chuyên tâm rao giảng và dạy dỗ Lời Chúa cho mình. Sứ đồ Phao-lô trích dẫn Phục Truyền 25:4: “Chớ khớp miệng con bò trong khi nó đạp lúa,” để nói đến việc người hầu việc Chúa phải được hội thánh chăm lo đời sống vật chất là điều đương nhiên, giống như người làm việc phải đáng được hưởng tiền công của mình, như con bò đạp lúa thì đáng phải được cho ăn cỏ vậy. Vật chất, tiền bạc không phải là phương tiện hội thánh dùng để “điều khiển” người lãnh đạo nhưng để bày tỏ lòng quý mến và kính trọng đối với người hầu việc Chúa trong hội thánh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hội thánh đừng nên thưa kiện người lãnh đạo nếu không có đủ bằng chứng. Sứ đồ Phao-lô không hề ngăn cấm việc thưa kiện nhưng phải có bằng chứng đầy đủ và rõ ràng. Nếu không thì hội thánh của Chúa sẽ mang tội trước mặt Chúa về tội vu khống và đó là công việc của ma quỷ. Là con người, những nhà lãnh đạo hội thánh có lúc cũng lầm lỗi như bao nhiêu người khác. Vì thế, khi họ có lỗi hay sai phạm nghiêm trọng, hội thánh của Chúa phải có trách nhiệm đối với chức vụ của họ. Nếu có bằng chứng cụ thể, rõ ràng thì hội thánh của Chúa phải giải quyết và không nên im lặng vì nể tình mà gây cớ vấp phạm cho hội thánh và tai tiếng cho danh Chúa. Hội thánh của Đức Chúa Trời không nên che đậy, bưng bít, bào chữa tội lỗi của những nhà lãnh đạo hội thánh. Làm như thế chẳng khác nào chất chứa chứng bệnh ung thư hay che đậy ung nhọt mà không chịu chữa trị. Vì người lãnh đạo hội thánh có ảnh hưởng lớn trên hội thánh của Chúa và cả cộng đồng người chưa tin Chúa bên ngoài, nên khi người lãnh đạo sai phạm thì ảnh hưởng của việc họ làm sẽ có tác hại rất lớn cho hội thánh và danh Chúa giữa vòng người ngoại. Do đó, hội thánh không nên để mặc cho người lãnh đạo muốn làm gì thì làm, làm những điều sai trái, gây tác hại cho uy tín của hội thánh và danh vinh hiển của Chúa. Sứ đồ Phao-lô nói hội thánh của Đức Chúa Trời phải biết quở trách những nhà lãnh đạo có lỗi mà không biết ăn năn (trong nguyên bản là "cứ tiếp tục đắm mình trong tội lỗi") cách công khai giữa mọi người ngõ hầu làm gương cho những người khác. Từ “quở trách” (rebuke) trong nguyên văn Tân Ước có nghĩa là phơi bày tội lỗi của người đó cách công khai để làm gương cho người khác (III Giăng 10). Đây cũng chính là tinh thần Chúa Jesus dạy về việc thi hành kỷ luật trong hội thánh đối với người có lỗi (Ma-thi-ơ 18:15-20). Tuy nhiên, việc này cần phải làm trong tinh thần trật tự, kính sợ Chúa và tôn trọng nhau, chứ không phải tố cáo bừa bãi làm mất danh dự người lãnh đạo và thanh danh hội thánh của Chúa. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sứ đồ Phao-lô không hề sử dụng quan niệm “đừng đụng đến người được xức dầu của Đức Chúa Trời” để bao che cho nhà lãnh đạo làm những việc sai lầm, tội lỗi, gây tổn thương cho hội thánh và cho danh Chúa. Chính ông đã từng quở trách sứ đồ Phi-e-rơ trước mặt mọi người về việc làm sai trái mà ông không hề sợ “đụng đến người chịu xức dầu của Chúa” (Ga-la-ti 2:14). Thỉnh thoảng có người sử dụng câu nói của Đa-vít nói về việc không nên “đụng đến người được Chúa xức dầu” là Sau-lơ để đe dọa tôi con Chúa nhằm chống chế tội lỗi của mình, không chịu ăn năn. Đây là những người có bản chất độc tài, thiếu đạo đức, sợ người khác hơn mình nên mới sử dụng thuật tâm lý tầm thường này. Thay vì trách nhiệm của hội thánh là phải giải quyết những trường hợp như thế, con dân và tôi tớ Chúa lại quy trách nhiệm “để cho Chúa giải quyết” vì sợ “đụng đến người được xức dầu của Chúa!” Có ít nhất hai điều chúng ta cần phải phân biệt giữa câu chuyện của Đa-vít đối với Sau-lơ ngày xưa và hội thánh trong Tân Ước ngày nay: (a) Việc Đa-vít nói ông không dám đụng đến Sau-lơ là chỉ nói đến việc ông không đụng đến mạng sống của Sau-lơ mà thôi (1 Sa-mu-ên 21:7; 26:9-11). Thay vì im lặng tiếp tục để cho Sau-lơ lún sâu vào con đường tội ác, Đa-vít lên tiếng để cho Sau-lơ thấy cái sai của mình hầu biết ăn năn. Có ít nhất hai lần chính Đa-vít đã từng lên tiếng công khai để cảnh tỉnh Sau-lơ về việc làm sai trái của vua (1 Sa-mu-ên 24:8-15; 26:17-20). Vì Đa-vít cũng là người được Chúa xức dầu, nên khi Sau-lơ săn đuổi và tìm cách để giết Đa-vít cho bằng được, thì chính ông đã phạm tội “đụng đến người xức dầu của Chúa.” Hậu quả là Chúa để cho Sau-lơ đi đến chỗ tự hủy diệt chính mình trên núi Ghinh-bô-a; (b) Ngày xưa trong thời Cựu Ước, chỉ có những người như vua, thầy tế lễ, tiên tri được gọi là người đuợc Chúa xức dầu. Ngày nay trong thời Tân Ước, tất cả mọi người từ “tôi tớ Chúa” cho đến “con cái Chúa” đều được Chúa xức dầu trong một mức độ nào đó để phục vụ Chúa trong hội thánh, vì mỗi người đều có Thánh Linh của Đức Chúa Trời (1 Giăng 2:20, 27 - sứ đồ Giăng sử dùng cùng một từ và quan niệm của sự xức dầu trong Cựu Ước). Như thế, khi một người tìm cách làm hại bạn đồng lao hay con cái Chúa thì hành động đó cũng được xem là “đụng đến người được Chúa xức dầu” trong nghĩa bao quát nhất của nó. Có thể nói, lối giải thích và sử dụng việc “đừng đụng đến người xức dầu của Chúa” để dung túng cho tội lỗi trong hội thánh của Đức Chúa Trời chính là do sự hiểu biết thiển cận về Lời Chúa và tinh thần thiếu nhiệm của hội thánh đối với những người lãnh đạo của mình. Chúng ta không nên lạm dụng Lời Chúa để dung túng những người hành động sai lầm, gây tác hại, tổn thương đến thanh danh và uy tín của hội thánh hay giáo hội, và ngay cả danh Chúa. Khi làm như vậy, người lãnh đạo không bao giờ được phước, hội thánh của Chúa cũng không được phước, và cả hai sẽ đi đến chỗ diệt vong.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2683049842822975878-2834048547930517069?l=atcprincipal.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/2834048547930517069'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/2834048547930517069'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://atcprincipal.blogspot.com/2010/03/trach-nhiem-hoi-thanh-oi-voi-nguoi-lanh.html' title='Trách nhiệm đối với người Lãnh đạo'/><author><name>Trần Trọng Nha, PhD</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00164744445826832009</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='29' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/-WgylZ-R6OPk/TxDbCMVpd5I/AAAAAAAAAHI/gp7b0xrc8OE/s220/MSNha.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-2683049842822975878.post-4426190958826970259</id><published>2010-02-10T22:43:00.001-08:00</published><updated>2010-03-18T14:54:07.016-07:00</updated><title type='text'>Đặc điểm của Nhà Lãnh đạo Thuộc Linh</title><content type='html'>Tiên tri Sa-mu-ên xuất hiện trên sân khấu thuộc linh trong một thời điểm vô cùng đen tối của dân sự Đức Chúa Trời. Giô-suê ra đi để lại một di sản thuộc linh đổ nát, không có người kế thừa . Suốt thời kỳ các Quan xét dân sự của Đức Chúa Trời bước đi trong chốn lầm than và kiếp đọa đày, sống trong cảnh đen tối và u buồn dưới ách thống trị của kẻ thù là dân ngoại. Nhiều lần họ kêu la và được Đức Chúa Trời giải cứu sau những lần thất bại ê chề của tội thờ lạy thần tượng, lìa bỏ Đấng tạo dựng và làm nên lịch sử cho chính mình. Về phương diện cá nhân, sự ra đời của Sa-mu-ên là một phép lạ. Sa-mu-ên là đứa con của sự khấn vái và than thở trước mặt Đức Chúa Trời và được Ngài nhậm lời. Mẹ của Sa-mu-ên là một người phụ nữ trung tín và thành tâm kính sợ Đức Chúa Trời. Bà sớm hoàn trả lời hứa nguyện cho Ngài mặc dầu phải trả một giá khá đắt. Hơn thế nữa, Sa-mu-ên được lớn lên hấp thụ bầu không khí tin kính nhưng rồi cuối cùng được đưa vào trong một môi trường tưởng chừng như là thánh thiện mà hóa ra là ổ trộm cướp của cha con thầy tế lễ Hê-li! Chính sự giáo dục gia đình từ thuở tấm bé đã trồng trong Sa-mu-ên một lòng kính sợ Đức Chúa Trời, cứu chàng không bị ô nhiễm bầu không khí bất kính và vô đạo của hai con trai thầy tế lễ Hê-li. Bổng dưng một đêm có tiếng phán từ trời chọc thủng bầu không khí ảm đạm và u buồn của đền thờ tại Si-lô. Tiếng phán đó đập mạnh vào tâm trí và đâm thấu vào tấm lòng của cậu bé Sa-mu-ên để biệt riêng con người này cho Đức Chúa Trời. Chương trình của Chúa cho Sa-mu-ên giữa vòng dân sự Ngài thật lớn lao và cao trọng. Chính vì thế, Đức Chúa Trời bỏ công sức để nhào nặn con người này hầu cân xứng và phù hợp với ơn kêu gọi và thánh vụ Sa-mu-ên sẽ đảm nhận trong tương lai. Có ba điều vô cùng quan trọng mà Thánh Kinh hé mở cho thấy liên quan đến phẩm chất thuộc linh trong đời sống của Sa-mu-ên, nhà lãnh đạo thuộc linh của dân sự Đức Chúa Trời:&lt;br /&gt;1. Đức Chúa Trời không để một lời nào của Sa-mu-ên ra hư (I Sa 3:19). Trong nguyên văn, từ “ra hư” ở đây có nghĩa là “không được hoàn nghiệm” (unfulfilled) hay “rơi xuống đất” (fall to the ground). Đức Chúa Trời ban cho Sa-mu-ên Lời của Ngài và sự rao giảng của ông có linh quyền và được hoàn nghiệm. Phẩm chất của người lãnh đạo thuộc linh được chứng tỏ trong lời người đó nói, ngôn từ người đó sử dụng. Dấu hiệu đầu tiên của một người được Chúa dùng là Ngài thánh hóa môi miệng và đặt Lời của Ngài trong người đó (Ê-sai 6:6-7). Đức Chúa Trời nắm giữ môi miệng để cho Lời người đó rao giảng trở nên có linh quyền và hoàn nghiệm, không để lời nào “rơi xuống đất” nhưng dán chặt vào tâm trí và tấm lòng con người.&lt;br /&gt;2. Đức Chúa Trời ban cho Sa-mu-ên có chỗ đứng cao trọng trong lòng dân sự (I Sa 3:20). Đây là kết quả của việc lời nói của ông được Chúa bảo toàn. Sự thánh hóa và nhào nặn của Chúa bên trong lòng của Sa-mu-ên được biểu lộ ra bên ngoài, đến nỗi cả dân sự Y-sơ-ra-ên đều nhận biết ông là người của Đức Chúa Trời. Nhà lãnh đạo thuộc linh chân chính không cần phải phô trương hay cố gắng chứng tỏ mình là người của Đức Chúa Trời. Chính sự ấn chứng bên trong của Thần Đức Giê-hô-va sẽ biểu lộ ra bên ngoài và dân sự của Ngài cảm nhận được. Sự nhận biết này được làm trong tâm trí của họ cách rõ ràng, không chút nhầm lẫn. Dân sự của Đức Chúa Trời cũng có sự hiện diện của Thánh Linh và sự nhận biết thiêng liêng để phân biệt đâu là tiên tri thật, đâu là tiên tri giả.&lt;br /&gt;3. Đức Chúa Trời tiếp tục hiện ra với Sa-mu-ên (I Sa 3:21). Đây là tính chất liên tục của mối tương giao thân mật giữa Sa-mu-ên với Chúa để tiếp tục được Ngài đổ đầy bằng chính Lời của Ngài. Sự hiện ra của Chúa là dấu ấn của chức vụ của Sa-mu-ên. Điều này cho thấy tâm trí của ông luôn sống trong sự thức tỉnh và linh hồn ngửa trông nơi chính Chúa là Đấng ban cho ông chức vụ lãnh đạo dân sự của Ngài. Sa-mu-ên nhận thức sâu xa rằng ngày nào mình đánh mất đi mối tương giao kín nhiệm với Đức Chúa Trời, ngày đó ông sẽ trở nên trò cười cho dân sự và dân ngoại giống như Sam-sôn.&lt;br /&gt;Với ba đặc điểm trên, Sa-mu-ên vẫn là mẫu mực của nhà lãnh đạo thuộc linh cho Hội Thánh của Đức Chúa Trời trải qua các thời đại, nhất là cho giai đoạn khủng hoảng thuộc linh này. Amen!&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/2683049842822975878-4426190958826970259?l=atcprincipal.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/4426190958826970259'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/2683049842822975878/posts/default/4426190958826970259'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://atcprincipal.blogspot.com/2010/02/ac-iem-cua-nha-lanh-ao-thuoc-linh.html' title='Đặc điểm của Nhà Lãnh đạo Thuộc Linh'/><author><name>Trần Trọng Nha, PhD</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00164744445826832009</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='29' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/-WgylZ-R6OPk/TxDbCMVpd5I/AAAAAAAAAHI/gp7b0xrc8OE/s220/MSNha.jpg'/></author></entry></feed>
